Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016
1/8 - Thánh Alphongsô Maria Liguori, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh trinh nữ, tử đạo
Posted on 08:46 by Trương Quỳnh Quý
Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016
2/8 - Thánh Phê-rô Giu-li-a-nô Ê-ma, linh mục
Posted on 08:45 by Trương Quỳnh Quý
Categories: Tháng 8
Thứ Hai, 25 tháng 7, 2016
25/7 - THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ
Posted on 08:04 by Trương Quỳnh Quý
Hạnh tích: Thánh GIACÔBÊ (tiền), Tông đồ
1. Thân thế của Giacôbê:
Giacôbê là con của ông Dêbêđê và bà
Salômê, anh của thánh Gioan Tông Đồ; sống nghề chài lưới ở biển Giênêgiaréth,
bạn chài với Phêrô và Andrê. Tin Mừng thường nhắc đến hai anh em Giacôbê và
Gioan Tông Đồ nhiều lần.
Họ thuộc nhóm những môn đệ tâm
giao của Chúa Giêsu (cùng với Phêrô và Gioan). Các ngài được chứng kiến:
·
Việc Chúa cho con gái ông Giairô sống
lại.
·
Sự hiển dung của Chúa ở đồi Thabor.
·
Lúc Chúa cầu nguyện ở vườn Cây Dầu.
Giacôbê là người đầu tiên trong Nhóm
Mười Hai đã lấy máu đào của mình làm chứng cho Chúa Giêsu: vua Hêrôđê Antipa đã
ra lệnh chặt đầu ngài vào năm 44 (Cv 12,2; Mt 20,22-23). Như thế ứng nghiệm lời
Chúa tiên báo cho ông: “ông đã thông chia chén của Chúa”.
2. Tính tình của Giacôbê: Giacôbê
được gọi là vị Tông Đồ cao vọng (Mt 20,20).
Giacôbê được Chúa gọi là “con của
thiên lôi”, điều này cho thấy rằng ông là con người nóng nảy và cuồng nhiệt đến
thế nào. Quả vậy, phản ứng của ông đối với các dân thành Samaria đã giải thích
điều đó. Khi Chúa qua con đường Samaria để về Giêrusalem, dọc đường những người
Samaria đã từ chối không đón tiếp Chúa, Giacôbê đã đế nghị với Chúa: “Thưa
Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống mà tiêu diệt chúng không?”
(Lc 9,54).
Cao vọng của Giacôbê còn được thể hiện
qua sự việc bà Salômê, là mẹ của ông, đã thỉnh cầu Chúa Giêsu cho Giacôbê và
Gioan rằng: “Xin Ngài truyền lệnh cho các con tôi đây được ngồi một đứa bên tả,
một đứa bên hữu Ngài trong Nước của Ngài” (Mt 20,21).
Cao vọng của người mẹ truyền sang cho
người con đến độ người mẹ không xin thì con cũng tự xin. Bằng chứng là Márcô kể
lại câu chuyện thỉnh nguyện này mà không nhắc đến người mẹ, nhưng chỉ kể
Giacôbê và Gioan tự miệng nói ra câu ấy (Mc 10,37).
Tuy Giacôbê có cao vọng như vậy, nhưng
Chúa vẫn chọn ông và tín nhiệm ông, và Người đã hoán cải ông. Chúa hoán cải các
môn đệ:
·
Bằng đời sống gương mẫu của ngài: Chúa
Giêsu rửa chân cho các Tông Đồ và Người bảo các Tông Đồ hãy rửa chân cho nhau,
vì “Ai muốn làm lớn trong anh em, thì hãy hầu hạ anh em” (Mt 20,27).
·
Bằng cái chết của Người: con Người đến
để thí mạng sống mình hầu làm giá chuộc thay cho nhiều người (Mt 20,28). Các
Tông Đồ đã lần lượt chịu tử đạo để theo gương Chúa.
3. Nhận thức và áp dụng:
Thánh Giacôbê thuộc giới thợ thuyền
làm nghề chài lưới vất vả; đàng khác lại có tham vọng đi ngược với vai trò và
tinh thần của người tông đồ, nhưng Chúa Giêsu vẫn gọi và chọn ông đi theo Chúa
và làm Tông Đồ cho Chúa. Điều này chứng tỏ ơn thánh của Chúa Kitô quả có sức
làm biến đổi tâm hồn và cuộc sống của Giacôbê đến độ ông đã hiến mình trọn vẹn
cho Chúa.
Noi gương thánh Giacôbê: người tông đồ
không nên tự ty mặc cảm về những hèn kém của mình, nhưng tin tưởng vào tình
thương và sức mạnh của ơn Chúa để hiến thân trọn vẹn cho Chúa.
Đi theo Chúa, Giacôbê vẫn còn có những
tham vọng phàm trần, song nhờ sự giáo huấn của Chúa và nhất là gương sống của
Chúa đã khiến ông từ bỏ mọi sự và từ bỏ chính bản thân mình để hiến mình cho
Chúa cách trọn vẹn.
Người tông đồ cần lắng nghe lời Chúa
để đón nhận những giáo huấn của Chúa; đồng thời phải biết chiêm ngắm gương sống
của Chúa để noi gương bắt chước sống trọn vẹn cho Chúa.
Giacôbê được Chúa dành riêng trong
nhóm những người thận cận của Chúa để được chứng kiến những sự việc cần thiết
cho sứ mạng làm chứng nhân trong vai trò người Tông Đồ.
Những ai được mời gọi sống đời thánh
hiến, cũng được tuyển chọn riêng trong thời gian tu luyện để tìm gặp Chúa, đến
với Chúa, ở lại với Chúa và để được biến đổi trở nên đồng hình đồng dạng với
Chúa, hầu có thể chu toàn sứ vụ tông đồ của mình.
TGP SG
Categories: Tháng 7
Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016
23/7 - THÁNH BRIGITTA, NỮ TU
Posted on 08:16 by Trương Quỳnh Quý
Hạnh thánh: Thánh Brigitta, nữ tu (1303 – 1373)
Thánh
Brigitta (hay là Birgitta) sinh ngày 14 tháng 6 năm 1303 tại Upland, Thụy Điển,
nơi cha ngài cai quản. Mẹ ngài, bà Ingeborg Phinsta, là con của vị quan cai
quản miền Đông Goythland. Brigitta là con út trong số 7 người con.
Truyền
thuyết mặc cho cuộc sinh hạ của thánh nữ nhiều biến cố siêu nhiên. Ngay trước
khi sinh ra thánh nữ, mẹ ngài đã thoát chết cách lạ lùng trong một cuộc đắm
tàu. Một linh mục được thị kiến, thấy “tiếng nói của con trẻ được mọi người
nghe theo”. Thực tế, Brigitta tới 3 tuổi mới nói được, nhưng lại nói rất sõi
làm cho láng giềng phải kinh ngạc.
Lúc lên 7
tuổi, một buổi sáng có bà mặc áo trắng hiện đến đầu giường, tay cầm triều thiên
và nói:
-
Brigitta, con có muốn thiên thần này không?
Đứa trẻ
đáp lời:
- Dạ con
muốn lắm chứ.
Và Đức
Trinh Nữ đã đội triều thiên lên đầu Brigitta.
Khi lên 10
tuổi, Brigitta đã được nghe giảng về cuộc khổ nạn của Chúa, thánh nữ rất cảm
động. Đêm sau, Chúa Giêsu hiện ra, mình đầy thương tích bê bết máu. Chúa nói:
- Con xem
cha bị đối xử tàn tệ thế nào.
Đau đớn
thánh nữ hỏi:
- Lạy
Chúa, ai làm cho Chúa bị thương tích như vậy?
Chúa nói:
- Những
người khinh thường các giới luật và quên lãng tình yêu Cha.
Những hình
ảnh này không bao giờ phai mờ trong tâm trí Brigitta. Năm 1314 mẹ thánh nữ từ
trần. Ngài sống với người dì. Năm 1316, vì vâng lời và ngược với khuynh hướng
tự nhiên, thánh nữ kết hôn với Ulf Gudmarsson, 18 tuổi, nghị viên tương lai của
vương quốc. Họ sinh được tám người con, 4 trai, 4 gái. Hai người con trai chết
sớm. Karl, người con trưởng nặng tinh thần thế tục, nhưng lại rất kính mến Đức
Mẹ. Birger, người con gái thứ hai, lập gia đình. Nhưng sau này trở thành người
cộng sự của mẹ và sẽ đem xác mẹ từ Roma về chôn cất tại Thụy Điển. Ba người con
gái khác đều lập gia đình Merita và Cêcilia ở lại Thụy Điển. Còn Catarina sau
khi mất chồng đã sống với mẹ.
Người con
trai thứ tư, Ingebord đã trở thành tu sĩ dòng Xitô.
Vua Magour
mời thánh nữ vào làm cố vấn cho hoàng hậu Blanche. Ngài trở thành người quản
gia thứ hai trong triều sau hoàng hậu, nhưng đã cố gắng một cách vô hiệu trong
nỗ lực biến cải đời sống của hoàng hậu lẫn của nhà vua. Sau một cơn bệnh nguy
ngập và được Đức Trinh Nữ chữa lành, thánh nữ khuyên chồng rời bỏ triều đình
lui về nhà riêng họ đã sống đời gia đình gần như sống trong tu viện.
Brigitta
cùng chồng đi hành hương đền thờ thánh Giacôbê ở Compostella. Trên đường về,
ông Ulf lâm trọng bệnh. Năm 1943, nghĩa là 28 năm sau ngày cưới, ông qua đời
tại tu viện Alvasta và Brigitta sống đời sám hối gần tu viện Xitô ở Alvasta.
Khi sống tại đây thánh nữ soạn một bộ luật dòng mà ngài được kêu gọi thành lập,
nhưng sinh thời ngài không bao giờ thấy được dòng ấy thành hình. Chính
Cararina, ái nữ ngài, sẽ hướng dẫn nhà dòng phát triển mạnh mẽ, sau khi được
Đức Urbanô V châu phê năm 1370 và sau khi thánh nữ qua đời.
Thánh nữ
Brigitta được ơn tiên tri và thực hiện nhiều cuộc chữa trị lạ lùng cho Giáo hội
và xã hội. Chúng ta biết rằng: khi đã trở thành goá phụ, thánh nữ đã sống đời
khổ hạnh, ít ăn, ít ngủ và cầu nguyện không ngừng. Ngài theo đuổi một luật sống
nghiêm ngặt và thực hiện đủ công trình bác ái, đến nỗi chính ngài phải đi ăn
xin. Dù vậy, ngài không rút lui hoàn toàn vào cô đơn. Ngài được linh ứng và cha
tuyên úy của ngài viết lại bằng tiếng La-tinh dưới tựa đề “mạc khải”. Ngài cũng
viết nhiều thư tín cho Đức Giáo Hoàng, các Đức Hồng y và các nhà cầm quyền để
vạch trần những tật xấu của họ, cũng như chỉ vẽ cách thế canh tân đời sống họ.
Đối với nhà vua, ngài chỉ trích các hà khắc và khuyên sống với địa vị của mình.
Ngài còn nhờ một Giám mục mang thư khuyên hai vua Anh và Pháp hòa giải với
nhau. Đối với Đức Giáo Hoàng Clêmentê VI đang ở Avignon, ngài xin vị cha chung
trở về Roma.
Năm 1349,
thánh nữ đi hành hương Roma để dự Năm Thánh. Nhân dịp này, ngài xin Toà Thánh
châu phê luật dòng, nhưng từ năm 1215 công đồng Lateranô IV đã cấm lập thêm
dòng mới. Năm 1370, Đức Giáo Hoàng Urbanô V châu phê luật dòng của ngài. Được
ơn soi sáng, năm 1372, thánh Brigitta đi hành hương Thánh địa để cầu nguyện cho
Giáo hội.
Năm 1373,
thánh nữ trở về Roma và từ trần vào ngày 23 tháng 7. Mười tám năm sau, ngày 7
tháng 10 năm 1391, ngài được ĐGH Boniface IX phong thánh.
TGP SG
Categories: Tháng 7
Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016
22/7 - THÁNH NỮ MARIA MAĐALÊNA
Posted on 08:24 by Trương Quỳnh Quý
Hạnh
tích: Thánh nữ MARIA MAĐALÊNA
Thánh nữ
Maria thành Magđala (Mácđala hay Mađalêna) là người được gọi đầu tiên trong số các
phụ nữ được Chúa Giêsu chữa bệnh, nay theo và phục vụ Người (x. Lc 8,2).
Trong Phúc
Âm có nói nhiều về những người mang tên Maria, cũng được Chúa chú tâm đặc biệt,
ít nhất là có ba người, đó là các bà Maria thành Béthania (miền Giuđê),
bà Maria thành Magđala (miền Galilê) và người đàn bà tội lỗi vô danh trong
Phúc Âm Thánh Luca (x. Lc 7).
Phụng vụ
Giáo Hội La Mã, kể từ thời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả, đều coi Maria này là
người đàn bà tội lỗi, rửa chân cho Chúa Giêsu (x. Lc 7,36-50) và là em của
Mátta và Lagiarô (x. Lc 10,38,50 ; Ga 12,1-8). Thế nhưng khoa Thánh Kinh
ngày nay không xác tín điểm này.
Điểm chắc
chắn không ai tranh cãi là Maria Magđala đã đứng dưới chân Thánh Giá của Chúa
Giêsu (x. Mc 15,40-41). Bà hiện diện nơi cuộc táng xác Chúa (x. Mc 15,47) và
vào buổi sáng phục Sinh, bà cùng mấy phụ nữ đã đi ra mồ Chúa (x. Mc 16,1-8).
Chính bà là người đầu tiên được Chúa Phục Sinh hiện ra và sai đi báo cho các
Tông Đồ tin mừng Phục Sinh (x. Mc 16,9 ; Ga 14-18).
TGP SG
Categories: Tháng 7
Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016
15/7 - THÁNH BÔNAVENTURA
Posted on 08:06 by Trương Quỳnh Quý
Hạnh Thánh: Thánh Bônaventura (1221 – 1274)
Sinh năm 1221 tại
Bagnorea, gần Viterbo, thánh Bonaventura là con ông Giovanni di Fidanza và bà
Ritella. Ngài được đặt tên là Giovanni, lúc lên bốn, Ngài lâm trọng bệnh vô
phương cứu chữa. Người mẹ vội ẵm Ngài tới gặp thánh Phanxicô khó khăn. Thánh
nhân thương cha mẹ dâng lời cầu nguyện và Giovanni hết bệnh. Sung sướng, người
mẹ kêu lên: “Obuona Ventura” (Ôi biến cố phúc hậu). Từ đó Giovanni mang tên
Bônaventura. Ngài theo học tại dòng anh em hèn mọn.
Tới tuổi 15, Bonaventura
theo học tại Paris, trung tâm ánh sáng thời đó. Ngài sống thanh trong đến nỗi
Alexandre de Hales nhận xét:
- Anh giống như Adam
chưa hề phạm tội.
Ngài kết thân với sinh
viên tài ba khác là Thomas Aquino. Ngỡ ngàng về sự hiểu biết của bạn mình.
Thomas hỏi Bonaventura xem Ngài đã học sách nào? Bonaventura chỉ cây thánh giá
trả lời:
- Đây là nguồn mọi hiểu
biết của tôi. Tôi học Chúa Giêsu bị đóng đinh.
Năm 1257, Ngài được chọn
làm bề trên cả dòng Phanxicô. Tình thế Ngài phải đối diện rất là phức tạp.
Trong dòng đang có sự phân rẽ giữa những người nhiệt tâm muốn tuân giữ nghiêm
nhặt luật dòng và những người muốn chước giảm. Nhờ sự thánh thiện và tài khéo
léo, Bonaventura đã giải quyết các vấn đề cách ổn thỏa, đến nỗi Ngài đang được
gọi là Đấng sáng lập thứ hai của dòng. Trong kỳ đại hội ở Narbonne 1250, Ngài
đã ban hành hiến pháp đầu tiên cho dòng. Sau đó Ngài liên tiếp thăm viếng không
biết mệt các tỉnh dòng để quan sát việc thực hiện bản quy luật này. Chính Ngài
tổ chức việc học hành cho các giáo sĩ trong dòng, làm cho công cuộc tông đồ
được phổ biến rộng rãi đến cả những bậc thức giả lẫn giới bình dân. Chính
Bonaventura là một nhà dòng giảng thuyết có biệt tài. Ngài đã giảng thuyết từ
các tu viện, tới các thành phố ở Âu Châu, trước mặt vua Luy IX, Đức giáo hoàng.
Luôn luôn Ngài thu phục được cảm tình của thính giả. Một thầy dòng khiêm tốn
tên là Gilles hỏi Ngài: Các cha thông thái, được Chúa ban cho nhiều tài năng.
Còn chúng con, chúng con có thể làm gì được?
Bonaventuratrả lời: Nếu Chúa ban cho một người tài năng khác là ơn yêu
mến Ngài thế là đủ rồi, và là kho tàng quý báu nhất.
Thầy dòng hỏi tiếp: Một
người không biết đọc biết viết có thể yêu mến Thiên Chúa như một nhà thông thái
biết mọi sự không?
Thánh nhân trả lời: Chắc
chắn rồi, một bà già có thể yêu Chúa hơn cả một nhà tiến sĩ thần học.
Thầy dòng vui vẻ la lớn:
Một bà già có thể yêu Chúa hơn cả cha Bonaventura của chúng ta nữa.
Ngài còn tiếp: Biết một
chút về Chúa còn hơn là biết mọi sự trong trời đất.
Ngoài những hoạt động
bên ngoài ấy. Bonaventura còn lo viết sách để huấn luyện các tu sĩ và những
sách về triết học, thần học và thánh kinh. Chúng ta có thể kể đến cuốn “chú
giải luật dòng Phanxicô”, “hạnh tích thánh Phanxicô” nhất là cuốn “hành trình
của linh hồn hướng về Thiên Chúa”.
Trong nỗ lực xây dựng
Hội Thánh, Bonaventura luôn tỏ ra khiêm tốn. Người ta kể rằng: Đức giáo hoàng
Grêgoriô X truyền cho thánh Thomas và Bonaventura soạn thảo bộ kinh lễ Thánh
Thể. Khi hai vị vào yết kiến đức giáo hoàng trình bày công việc, thánh
Bonaventura xé nát bản văn của mình.
Cùng với lời khiêm tốn
ấy, Bonaventura đã từ chối chức Tổng giám mục thành York mà Đức giáo hoàng
Clêment IV đề nghị, lòng khiêm tốn ấy không ngăn cản sự cương quyết và can đảm
của Ngài chống lại thuyết sai lầm của thuyết Aristote và Avéoes... Nhưng Đức
giáo hoàng Grêgoriô X đã quyết định đặt Ngài làm hồng y cai quản giáo phận
Albanô và truyền Ngài về Roma ngay. Khi hai sứ thần mang mũ hồng y đến, Ngài
còn đang rửa chân. Ngày 28 tháng 5 năm 1273 Ngài nhận chức và là cánh tay đắc
lực của đức giáo hoàng. Phần đóng góp của Ngài vào sự hợp nhất Giáo hội Hy lạp
và Roma tại công đồng Lyon thật lớn lao.
Nhưng khi công đồng Lyon
còn đang nhóm họp thì Bonaventura từ trần ngày 14 tháng 7 năm 1274. Đức Sixtô
IV tuyên Ngài lên bậc hiển thánh năm 1482 và đức Sixtô V đã đặt Ngài làm tiến
sĩ Hội Thánh năm 1858. Người ta gọi Ngài là “Tiến sĩ sốt mến”.
TGP SG
Categories: Tháng 7
Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016
11/7 - THÁNH BÊNÊĐICTÔ, VIỆN PHỤ
Posted on 08:50 by Trương Quỳnh Quý
Hạnh Thánh: Thánh Bênêđictô, Viện Phụ (480-547)
1. Đôi hàng tiểu sử
Thánh Bênêđictô sinh tại Norcia năm 480 trong một gia đình giàu sang quý tộc.
Khi nhỏ, cha mẹ cho ngài được ăn học ở địa phương, để gần gũi với gia đình, dễ bề đào tạo tính tình đức hạnh.
Năm 14 tuổi, thánh nhân được gởi đến học ở Rôma. Học ở Rôma được một thời gian, ngài thấy Rôma không phù hợp với mình vì cuộc sống ở Rôma lúc đó rất suy đồi trụy lạc. Để giữ gìn linh hồn mình được luôn trong sạch. Ngài đã trốn khỏi kinh thành, muốn tìm đến một nơi thanh vắng, sống đời ẩn tu tịch mạc. Ý muốn của Ngài đã được Chúa ưng thuận. Miền hoang địa cách Rôma 40 dặm là nơi Ngài đã dừng chân để được sống cuộc đời tịch liêu thân mật với Chúa. Trong khi
còn đi lang thang tìm một hang trú ẩn, Bênêđictô gặp được thầy Rômanô, một tu sĩ cùng chí hướng với mình. Tình yêu và lý tưởng đã kết hợp hai người thành đôi bạn chí thiết. Rômanô chỉ cho Bênêđictô một hang rất kín chưa hề có một vết chân người lui tới. Bênêđictô sống ở đó ba năm. Hằng ngày thầy Rômanô mang bánh cho Ngài. Sau thời gian vắn vỏi sống đời ẩn dật hoàn toàn, Chúa muốn đặt ngọn đèn thánh thiện của Bênêđictô lên nơi cao để soi dẫn cho nhiều người.
Ma quỷ thấy nhân đức của ngài thì luôn tìm đủ cách quấy phá. Đứng trước những cám dỗ của ma quỷ, Ngài luôn làm dấu Thánh giá xua đuổi chúng. Còn những người muốn sống đời nhân đức trọn lành tìm đến, thì Ngài luôn sẵn sàng hướng dẫn giúp đỡ, dạy bảo. Nhờ đó mà danh thơm thánh thiện của ngài lan rộng khắp nơi. Cả những người quý phái ở Rôma cũng đến xin làm môn đệ ngài. Ngài thành lập 12 tu viện nhỏ, để tiếp nhận họ và giúp họ tập rèn nhân đức.
Số người muốn tu luyện theo đường lối thánh nhân mỗi ngày một đông, nên năm 520, ngài phải dời về Montô Cátsinô, thành lập tu viện. Đây là tu viện đầu tiên của thánh Bênêđictô. Chính Ngài soạn tu luật cho tu viện. Sau này tu luật mang tên người được phổ biến khắp châu Âu, nên người được mệnh danh là “Tổ phụ của nếp sống đan tu ở phương Tây”.
Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đã có sự hiện diện của các đan viện sống theo lý tưởng của Ngài. Các tu sĩ của Ngài đã hết lòng yêu mến và tuân giữ ba đặc điểm như ba cột trụ chi phối và nâng đỡ đời sống của mình. Ba cột trụ đó là cầu nguyện, học hành và lao động. Người tu sĩ hằng ngày chuyên cần cầu nguyện, siêng năng học hỏi Lời Chúa và làm việc chân tay để tự nuôi sống.
Bênêdictô
qua đời ngày 21 tháng 3 năm 547. Từ cuối thế kỷ VIII, Ngài đã được kính nhớ vào ngày 11 tháng 7. Ngày 24 tháng 10 năm 1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ra tông thư “Sứ giả hoà bình” (Pacis nuntius), đặt người làm bổn mạng toàn châu Âu.
Sau khi Ngài qua đời, các môn đệ của thánh nhân đặt xác thầy mình bên cạnh xác em gái Ngài, trong mộ Ngài đã dọn sẵn cho mình ở dưới bàn thờ thánh Gioan
Baotixita.
Cuộc đời trần thế của thánh nhân tới đây kết liễu, nhưng danh thơm và sự nghiệp vĩ đại của Ngài sẽ còn tồn tại như bia đá ngàn thu, Người ta quên sao được bộ tu luật bất hủ của Ngài đã làm hứng khởi bao tâm hồn đạo đức là kim chí nam cho những ai muốn nên thánh thiện. Đàng khác sự tiến phát mau lẹ của dòng và con số đông đảo của những tu sĩ rải rác khắp năm châu, phải chăng chính là dấu Chúa quan phòng hằng chúc phúc cho sự nghiệp của đấng thánh qua muôn thế hệ.
2.
Con đường nên Thánh
a.
Chí muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa
Trong cuốn “đối thoại”,
thánh Grêgôriô cả, sử gia của Bênêđictô, mệnh danh Ngài là “người của Thiên
Chúa”. Ơn gọi của Bênêđictô độc đáo ở chỗ này là “chỉ muốn đẹp lòng duy nhất mình Thiên Chúa”. Ngài
thực thi tốt và liên lỉ các nhân đức đối thần đến nỗi tất cả cuộc sống Ngài
được Thiên Chúa qui hướng. Người của Thiên Chúa trước tiên là người của lòng
tin. Điều này ta thấy được dễ dàng qua qui luật. Sử gia Daniel Rops: “Tất cả
con người Bênêđictô là ở trong qui luật. Nếu ta muốn chấm phá dung mạo thiêng
liêng của Ngài, thì phải rút những nét tự Qui luật, đó là bức chân dung trung
thực nhất về Ngài” Thánh Grêgôriô khẳng định : “Ngài không dạy điều gì khác
Ngài đã sống”. Cho mỗi vấn đề mới được nêu ra, Ngài đã trả lời trước tiên bằng
mỗi tác động đức tin. Vậy thì Đan Viện là gì? – thưa, là “Trường phụng sự
Chúa”, cho nên đồ đạc và tài sản của đan viện phải được coi như những
“bình thánh”, cung hiến cho Thiên Chúa (Qui luật 31).
Mọi công việc phải được
xử lý một cách lương thiện “Để trong mọi sự Thiên Chúa được tôn vinh” (57).
Nhưng trong việc nào, ta gặp Thiên Chúa hoàn toàn hơn?- Đó là Nhật Tụng,
là việc của Thiên Chúa. Do đó “Đừng coi việc gì quí hơn Nhật Tụng”(43). Điều
này không có nghĩa là ta gặp được Chúa ít hơn trong nơi khác. Trái lại, viện
phụ là Đức Kitô (2), khách và nhất là người nghèo là Đức Kitô (53). Bệnh nhân
cũng còn là Đức Kitô (36). Ở mọi nơi, đan sĩ có thể gặp Đức Kitô.
b.
Luôn tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa
Năm 339, nước Ý phải cơn
đói kém lớn lao chưa từng thấy; nhân dân khắp nơi đều phải điêu linh khổ sở
túng đói. Kho lẫm của tu viện thánh Bênêđictô cũng đến ngày hết sạch lương
thực: ngày kia chỉ còn có 5 chiếc bánh để cho cả nhà hàng trăm người dùng bữa.
Thấy các thầy ai cũng rầu rầu mặt, vị tu viện trưởng khả kính liền buông lời
trách mát các thầy vì thiếu lòng tin tưởng. Ngài nói:
- Sao các anh em buồn
rầu vì thiếu bánh? Ngày hôm nay chúng ta còn ít, thì ngày mai chúng ta sẽ có dư
dật.
Hôm sau quả thấy có hai
trăm thùng bột mì đựng trong các bao mà không ai biết là Thiên Chúa toàn năng
đã sai ai đem đến. Các tu sĩ ai nấy dâng lời tạ ơn Chúa và từ đấy không bao giờ
phải lo túng thiếu cả, khi trời lâm đói kém, mất mùa cũng vậy. Lần khác
có một người bị truy tố vì không có tiền trả một món nợ cấp bách. Ông đến bày
tỏ tình cảnh của mình với Tu viện trưởng Bênêđictô và xin Ngài thương giúp.
Thánh nhân trả lời rằng: mình không có đủ 12 đồng tiền vàng để cho ông, rồi
Ngài tiếp thêm để an ủi:
- Ông cứ về và hai ngày
nữa trở lại đây, vì hôm nay tôi không có để mà cho.
Trong hai ngày đó thánh
nhân cầu nguyện nhiều; ngày thứ ba con nợ trở lại, người ta thấy trên mặt hòm
vẫn chứa bột mì có 13 đồng vàng, thánh nhân bảo người nhà đem trao cho con nợ
tội nghiệp kia và nói:
- Ông hãy lấy 12 đồng mà
trả nợ còn một đồng để mà chi tiêu riêng.
c.
Quy luật của đời sống cộng đoàn:
“Các đan sĩ hãy cố công và hâm mộ luyện tập lấy
thứ thiện tâm ấy, đó là:
Ân cần tôn kính lẫn nhau;
Hết sức kiên nhẫn chịu đựng các nhược điểm hồn xác của nhau;
Thi đua vâng lời nhau;
Không ai tìm ích lợi cho mình;
Trái lại, hãy tìm lợi ích cho nhau;
Thực thi nghĩa vụ huynh đệ với lòng trong sáng;
Kính sợ Chúa trong tình thương;
Yêu mến Viện Phụ bằng tình yêu chân thành và khiêm tốn;
Và sau hết tuyệt đối không quí trọng gì hơn Chúa Kitô, Đấng dẫn đưa hết thảy chúng ta lên cõi đời đời.”
Ân cần tôn kính lẫn nhau;
Hết sức kiên nhẫn chịu đựng các nhược điểm hồn xác của nhau;
Thi đua vâng lời nhau;
Không ai tìm ích lợi cho mình;
Trái lại, hãy tìm lợi ích cho nhau;
Thực thi nghĩa vụ huynh đệ với lòng trong sáng;
Kính sợ Chúa trong tình thương;
Yêu mến Viện Phụ bằng tình yêu chân thành và khiêm tốn;
Và sau hết tuyệt đối không quí trọng gì hơn Chúa Kitô, Đấng dẫn đưa hết thảy chúng ta lên cõi đời đời.”
TGP SG
Categories: Tháng 7
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



